Chủ Nhật, 31 tháng 3, 2019

853. VÌ SAO CHA MẸ PHẢI CỐ GẮNG GIÀU THÌ CON CÁI MỚI DỄ THÀNH ĐẠT?

www.328.vn sưu tầm

VỆ ĐẠI VƯƠNG 328 Dr ĐĂNG CHO VAY

(Bài của khách)

Chúng ta nghĩ rằng con nhà nghèo sẽ có động lực vươn lên, nhưng thực tế không đơn giản như vậy. Khó khăn đôi khi bít lại các cơ hội.

Tại sao con trai lớn cần rời mẹ nhưng con gái không cần rời cha?

"Con phải cố lên, đời này bố mẹ cậy nhờ hết ở con". Đây là câu nhiều bố mẹ nói với con từ nhỏ. Vấn đề là, sự "dựa dẫm" này là quá rủi ro, đặc biệt khi thế hệ trẻ đang phải đứng trước quá nhiều cạnh tranh như hiện nay, theo Sina.

Năm 2016, Đại học Harvard công bố kết quả một nghiên cứu kéo dài 30 năm với 107 người Mỹ ở nhiều tầng lớp xã hội, từ lao động, tới thượng lưu. Theo đó, ảnh hưởng vị thế của cha mẹ tới thế hệ sau vượt xa những gì chúng ta tưởng. Ảnh hưởng này đến từ nhiều yếu tố, không chỉ về tiền bạc mà còn bao gồm độ bền vững của hôn nhân, khả năng cảm thông, mạng lưới xã hội và hiểu biết của cha mẹ.

Năm 1948, một phụ nữ Giang Tô tên Wang Shuzhen cùng chồng đưa 13 con tới Đài Loan. Bà Wang vốn là tiểu thư con nhà trí thức, được học chơi nhạc cụ, đánh cờ, viết thư pháp từ nhỏ. Chồng bà cũng là một doanh nhân giàu có. Không may, năm sau đó, người chồng khi trở về quê nhà lo việc làm ăn đã gặp nạn qua đời.

Cái chết đột ngột của người chồng khiến gia đình chao đảo. Người mẹ vốn không phải đụng tới việc gì giờ phải làm việc cả ngày lẫn đêm. Để bớt gánh nặng, bà có thể cho con nghỉ học. Nhưng bà không chọn cách đó mà động viên các con nỗ lực học tập. Ngay cả lúc tài chính cạn kiệt, gia đình phải chuyển về ngoại ô, bà vẫn kiên định để các con tiếp tục đến trường, dù phải đi bộ vài kilomet.

Cuối cùng, 13 con của bà đều trở thành tiến sĩ ở nhiều lĩnh vực như nghiên cứu khoa học, kinh doanh, nghệ thuật, công nghệ, luật, tài chính... Ba trong số đó còn đoạt giải "Mười gương mặt trẻ tiêu biểu nhất tại Mỹ". Theo Womenofchina, bà được cựu tổng thống Mỹ Bush viết thư khen ngợi là "người mẹ vĩ đại" và tổng thống Clinton mừng sinh nhật lần thứ 100.

Vậy có phải khi càng lâm vào khó khăn, con người càng dễ vươn lên thành công? Không hẳn.

Nếu nói về nghèo khó, có nhiều người ở Đài Loan còn nghèo hơn gia đình Wang Shuzhen. Nhưng có bao nhiêu nhà nghèo chọn bằng mọi giá cho con đi học thay vì nghỉ kiếm tiền phụ gia đình như bà?

Vào ngày 22/8/2017, một nam thanh niên 23 tuổi ở Thâm Quyến (Quảng Đông) đã tự tử vì muốn đi học nhưng không được bố mẹ đồng ý. Chuyện là, vì nhà nghèo, chàng trai này phải bỏ học từ cấp 2 để đi làm. Sau đó, khi kinh tế gia đình khá hơn, anh muốn đi học lại vì nhận ra sống ở thành phố cạnh tranh này, không có kiến thức thì khó ngóc đầu lên được. Thế nhưng cha mẹ anh phản đối. Cảm giác bất lực và phải mang gánh nặng quá lớn khiến anh tìm tới cái chết.

Chúng ta nghĩ rằng khi khó khăn, người ta sẽ có động lực để cố gắng vươn lên, nhưng thực tế không đơn giản như vậy. Khó khăn đôi khi là sự bít lại các cơ hội. Tầm nhìn, hiểu biết, giá trị và quan niệm về cuộc sống của cha mẹ và các thành viên gia đình có ảnh hưởng sâu sắc tới thế hệ trẻ.

Nhiều người thường chỉ thấy các gia đình giàu thì có tiền bạc để lại cho con cái mà không hề biết rằng họ còn truyền cho thế hệ sau nhiều thứ khác như sự hiểu biết, trải nghiệm, niềm tin, văn hóa...

Gia đình ảnh hưởng tới đường đời của người trẻ thế nào?

Trong nghiên cứu 30 năm, các giáo sư Đại học Harvard đã phân tích ảnh hưởng của gia đình tới cuộc đời trẻ ở các khía cạnh là trình độ giáo dục của cha mẹ, tình trạng hôn nhân, khu vực sinh sống...

Một kết quả đáng chú ý là điều kiện gia đình ảnh hưởng lớn tới khả năng tốt nghiệp đại học của một người. Nếu bạn lớn lên trong gia đình thu nhập cực thấp, thì dù bạn có đạt điểm tốt khi học cấp 2, cơ hội bạn tốt nghiệp đại học ít hơn hẳn so với những ai điểm thấp nhưng sống trong gia đình thu nhập cao. Ngoài ra, bố mẹ càng có trình độ giáo dục cao thì sẽ càng khích lệ con cái học cao hơn.

Mối quan hệ xã hội của bố mẹ cũng đóng vai trò quan trọng trên con đường phát triển của con. Phụ huynh có mạng lưới quan hệ xã hội tốt, nghĩa là luôn có những người bạn có khả năng giúp đỡ con cái mình bất cứ khi nào trẻ cần tìm việc, chuẩn bị hồ sơ đi học hay lúc bị bệnh tật, đau yếu.

Người trẻ ở những gia đình bình dân thường không thiếu nỗ lực, sự chăm chỉ. Cái họ thiếu là khả năng nhìn thấy hướng đi. Nếu không có sự hỗ trợ của gia đình và các nguồn lực bên ngoài, trong những giai đoạn khó khăn, họ dễ bối rối, khó vượt qua. Đó là do sự thiếu định hướng cuộc đời.

Điều kiện kinh tế cũng tác động rất lớn tới cách giáo dục con của cha mẹ. Chẳng hạn, cha mẹ ở các gia đình tầng lớp cao có thể đọc được các lý thuyết và phương pháp dạy con mới, từ đó, trẻ cũng dễ tiếp cận trước với những bài học phát triển trí thông minh, khả năng giao tiếp... so với bạn bè ở các gia đình khó khăn. Sự bất bình đẳng từ đầu đời sẽ tăng dần theo thời gian.

Ngay cả các thống kê về lượng sách bán ra cũng nói lên nhiều điều. Một trang thương mại điện tử cho biết, lượng sách bán ở Bắc Kinh và Thượng Hải chiếm 60% lượng bán ra cả nước.

Đây là lý do tại sao nhiều gia đình bần cùng loay hoay khó thoát khỏi đáy xã hội, trong khi các gia tộc khá giả có thể thịnh vượng hàng trăm năm. Tương tự, sau kỳ thi đại học ở Trung Quốc, các con số thống kê đều cho thấy, những người đỗ hầu hết là con các gia đình khá giả.

Thực tế, nhiều người vẫn giữ ảo tưởng "đọc nhiều chắc gì đã hơn". Họ luôn đưa ra các ví dụ về việc nhiều người không có nền tảng giáo dục và gia đình tốt trong những năm đầu đời và chỉ dựa vào nỗ lực cá nhân để vươn lên tầng lớp cao hơn trong xã hội. Nhưng điều đó xảy ra không nhiều, đa số là khi "gặp thời" hay cộng một số yếu tố khác.

Dữ liệu gần đây của Đại học Thanh Hoa (Bắc Kinh), số sinh viên nông thôn tại các đại học lớn ở Trung Quốc đã giảm từ những năm 1990. Tỉ lệ sinh viên nông thôn tại Đại học Bắc Kinh đã giảm từ 30% xuống 10% và sinh viên nông thôn ở Đại học Thanh Hoa năm 2010 chỉ chiếm 17%.

Có thể thấy, nhiều bố mẹ luôn hy vọng vào thế hệ sau, mà không hiểu rằng: Trong gia đình, chính bố mẹ mới là người đầu tiên cần nỗ lực, dù là để đạt tầm cao mới về vật chất hay tri thức... Họ quên rằng, khả năng vươn lên trong xã hội giống như một cuộc đua tiếp sức gia đình, và mỗi thế hệ đều phải nỗ lực hết mình, không thể chỉ trông chờ vào thế hệ sau.

Mẹ của Bill Gates từng là doanh nhân và có mối liên quan mật thiết với ban giám đốc công ty máy tính IBM. Năm 1968, khi nhiều trường cao đẳng và đại học Mỹ còn chưa có máy tính, trường tư Bill Gates học đã có máy tính PDP-10 cho ông và các bạn học lập trình cơ bản.

Cha Buffett là một thành viên của quốc hội. Khi 8 tuổi, Buffett đã tới sở giao dịch chứng khoán New York. Bố ông là giám đốc của một ngân hàng đầu tư đa quốc gia thu hút sinh viên các trường hàng đầu thế giới.

Ngay cả các tên tuổi lớn của ngành công nghệ Trung Quốc hầu hết cũng đều xuất thân từ các gia đình có điều kiện tốt nhất.

Nhìn vào thực tế trên không phải để hoảng hốt: "Vậy 'cái khó cứ bó cái khôn' mãi sao" và lo lắng rằng thế hệ sau sẽ thua ngay từ vạch xuất phát nếu bố mẹ ở vị trí thấp. Thay vào đó, chính bố mẹ cần không ngừng nỗ lực và đừng đặt hết kỳ vọng vào thế hệ sau hay phàn nàn rằng thế hệ trước đã không để lại bước đệm cho mình. Chính mình hãy trở thành điểm tựa tốt hơn cho con cháu sau này.

Nguồn: VnExpress

851.Sách giang hồ sài gòn tập cuối

Chương VIII

www.328.vn sưu tầm

VỆ ĐẠI VƯƠNG 328 Dr ĐĂNG CHO VAY

Tác giả viết bài này từng bị giam tại chuồng cọp trại 7, khu C, Côn Đảo gần hai năm (từ giữa năm 1973 đến 30-4-1975). Trong số tám khu biệt giam chuồng cọp thuộc trại 7, riêng khu C đúng nhốt tội phạm hinh sự "thú dữ" và bọn du đãng "có vằn có vện". 

Cứ hai người một phòng giam, luân phiên một vài tháng lại đổi người, nên tôi có dịp làm quen, tìm hiểu khá kỹ về giới giang hồ năm xưa. Khi bị giam ở Chí Hoà, tôi còn gặp cả bọn Chương Khùng, Việt Parker - và trước nữa, trong lần ở tù 1965-1970 là Đại Cathay, trùm du đãng nổi tiếng nhất hồi đó - nên có thể nói phần nào tôi có điều kiện "thâm nhập" giới này. 

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, khoảng giữa những năm 1980, con trai tôi học Taekwondo tại võ đường Hồ Xuân Hương, quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh, chung với con trai của Năm Cam. Và nhân một lần tổ chức sinh nhật cho con trai tôi tại nhà riêng (tôi cho phép con mời một số bạn học việc và bạn học võ chung lớp), Năm Cam chở con trai y tới nhà tôi làm quen. Hinh như Năm Cam cố ý tìm cơ hội đến làm quen với tôi (khi ấy tôi đang làm phó Tổng Biên tập Bảo Công an TP. HCM, tạm gọi là có chút địa vị. Và tôi trở thanh một trong những nhà báo đầu tiên - nếu không dám nhân là nhà báo đầu tiên - quen biết với Năm Cam. Thế là thông qua Năm Cam và đàn em của y, tôi cũng biết thêm khá nhiều về giới giang hồ tại TP. HCM sau này. 

Do đó, căn cứ vào hiểu biết cả nhân, tôi xin mạnh dạn đưa ra một số nhận xét của mình về những điểm khác biệt của giới giang hồ xưa và nay. Tất nhiên những nhận xét của tôi hoàn toàn do chủ quan, rất có thể phiến diện, còn nhiều sai sót và không được nhiều người đồng tình. Tôi xin sẵn sàng tiếp thu những ý kiến khác, kể cả trao đổi bổ sung, thậm chí đối lập với ý kiến của tôi. 

Tôi không kể những điểm giống nhau trong giới giang hồ, vì thời nào chẳng vậy, họ là thủ phạm gây nên nhiều vụ án hinh sự nghiêm trọng từ cướp của tới giết người, từ đâm thuê chém mướn tới đánh lộn đánh lạo, từ tổ chức sòng bạc, buôn bán ma tuý tới cho vay nặng lãi, bảo kê các vũ trường, quán bar, thậm chỉ gầy động mãi dâm, v.v... và v.v... 

Mặt khác họ tìm cách hối lộ, mua chuộc các quan chức trong bộ máy nhà nước, nhất là quan chức trong các lực lượng liên quan đến pháp luật như công an, toà án, kiếm sát. Họ cũng "kết" với một số nhà báo, nhà văn đề khti viết bài tố cáo họ (nếu những người này viết tốt về họ thì càng hay), thậm chí đưa "phòng bì" cho số được coi là nhà báo, nhà văn nay (trong vụ án Trương Văn Cam, có hai nhà báo liên quan, đã nhiều lần nhận tiền của hắn nên cũng bị ra toà, lãnh án tù là Nguyễn Hoàng Linh của bảo Tuổi Trẻ và Võ Quang Thắng của báo Công an TP.HCM). 

Tuy nhiên, trong giới giang hồ trước đây luôn có một số điều luật bất thành văn mà giới giang hồ sau này không tôn trọng. 

Trước hết, giang hồ cũ không bảo giờ "đụng" với quan chức thực thì pháp luật. Đại Cathay lẫy lừng là vậy mà sau lần lỡ tay giựt cùi chỏ đánh Cò Ly (Trưởng ty Cảnh sát quận 1) tại vũ trường Tự Do đã phải trốn chui trốn nhủi, nhờ người đứng ra dàn xếp, xin lỗi. Kết cuộc, Đại Cathay phải chịu hinh phạt của Cò Ly: Cấm không được lui tới những vũ trường, nhà hàng mà Cò Ly đã có mặt trước - Cò Ly cho rằng Đại Cathay đã phạm tội "khi quan" (!) 

Cũng vì dám động đến đám lính không quân (dù chưa làm ai bị thương chớ đừng nói đến chết) mà nguyên đám giang hồ của Đại Cathay bị xoá sổ vào năm 1966. 

Giang hồ sau này khác hẳn; đụng quan chức, kể cả công an cũng "chơi" luôn: Dám dùng dao đâm chết cảnh sát Phan Lê Sơn ngay tại một quán nhậu ở trung tam thành phố. 

Thứ nhi, tuy dân giang hồ thời trước cũng có đủ loại vũ khí, từ dao lê, mã tấu, côn nhị khúc... đến súng, lựu đạn; nhưng "hang nóng" (tức súng, lựu đạn) chỉ dùng để ăn cướp mà không bao giờ dùng đến khi thanh toán nội bộ hoặc đấu đá, thu phục lẫn nhau. 

Thí dụ, khi Đại Cathay muốn thâu tóm băng của Tin Mã Nàm ở khu vực Đại Thế Giới, Chợ Lớn, Đại chỉ huy đống binh hùng tướng mạnh mang theo dao búa gậy gộc tấn công đối thủ. Phe Tín Mã Nàm cũng vậy, chỉ dùng "tay nghề" tức võ thuật và tài sử dụng dao búa để kháng cự, dù cả hai phe súng ống đầy dẫy. Nhiều lần đụng độ bất phân thắng bại, có khi mỗi bên xuất quân tới mấy chục, nhưng chưa khi nào nghe tiếng súng nổ, cũng do đó bình thường đôi bên chỉ bị thương chớ không ai bỏ mạng bao giờ) 

Giang hồ khi xưa quan niệm, khi chỉ dùng "tay nghề" thi đấu, bên nào thua mới tâm phục khẩu phục. Cho nên, những "đại ca" thời trước đều phải vừa gan lì, vừa phải thường xuyên thao dợt võ nghệ, tập luyện thân thể, kể cả trong tù. Võ của anh em hầu hết không theo một trường phái cụ thể nào, không nhằm muá cho nhuyễn, "đi bài" cho đẹp, nhưng là những đòn thế giang hồ theo kiểu tổng hợp "thập cẩm" chủ yếu là làm bất cứ cách nào hạ được đối thủ, sát thương đối thủ như chơi. 

Trong khi giới giang hồ bây giờ hở một chút là "chơi hàng nóng". Cụ thể như Bình Kiểm, mau chóng có số má chỉ nhờ vào mấy khẩu súng. Hoặc Châu Phát Lai Em, nổi lên bước đầu nhờ khích một tay đàn anh đấu võ tay không, riêng Lai Em lén giấu dao trong áo, khi thấy nguy cơ thua liền rút dao đâm diệt đối thủ... 

Thứ ba, giang hồ ngày trưởc, dù đã lên đến hạng "đại ca" vẫn sẵn sàng trực tiếp thi thố tài năng khi cần thiết. Đại Cathay khi cùng một lô tay em lên Đà Lạt, gặp trùm du đãng xứ sương mù là Xi Rỗ, Đại Cathay chơi "pạc co (par corps tức đấu tay đôi) liền, không chút sợ hãi (nếu là Năm Cam hay Hiệp Phò mã, dám chắc cả hai bỏ chạy có cờ). 

Thứ tư, ngày trước đã mang danh dân giang hồ là phải "chơi đẹp". Tất nhiên không phải hiểu "chơi đẹp" theo nghĩa thông thường là chi tiêu hào phóng, rộng rãi; mà là đối với bạn bè - dù bất cứ thành phần đối tượng nào đã kết thân coi như bạn - phải đàng hoàng, không nói dóc, hứa cuội, mà giữ gìn chữ tín, nể trọng lẫn nhau.

Mãi đến bây giờ tôi vẫn còn ân hận một chuyện: Khoảng đầu 1977 tôi gặp lại Huệ Râu, trước bị giam chúng với tôi tại chuồng cọp khu C, trại 7. Anh em mừng mừng tủi tủi, ôn lại đủ thứ chuyện hồi bị giam chung tại khu C trại 7 ngoài Côn Đảo. Thấy anh gầy và xanh, tôi sực nhớ có nghe một cựu tù nhân kể anh chơi xi ke, tôi hỏi nhưng anh chối. Tôi nói dứt khoát: "Nếu anh không chơi thứ đó thì tốt. Nhưng nếu còn dính đến xì ke thì đừng gặp tôi nữa". Từ đó tôi không bao giờ gặp lại anh, sau này nghe tin anh chết mà vẫn không bỏ được thứ ma tuý ấy. Phải chi lúc ấy tôi đừng qua "căng" hoặc Huệ Râu cứ nói dối tôi có thể sự việc đã đổi khác. Tôi kết thân với anh em giang hồ cũ chính là nhờ điểm này. Đến tận lúc chết, Lâm Chín ngón vẫn tự coi là "đàn em" của tôi một cách rất thật tình. 

Giang hồ thời nay không thiếu gì kẻ lừa thầy phản bạn, bán đứng anh em, từ "chơi đẹp" gần như đã chìm hẳn vào quá khứ. 

Cũng chinh một phần nhờ "chơi đẹp" mà giang hồ năm xưa mới nổi đình đám, được cảm tình của một số người, trong đó các doanh nhân, văn nghệ sĩ, và cả một số lính, cảnh sát của chế độ cũ (như Lành là cảnh sát Tổng nha theo làm tài xế cho Đại Cathay; Sáng và Cu Quì là người nhái làm đàn em của Đại...). 

Thêm một câu hỏi: Tại sao giang hồ Sài gòn lại rộ lên, với khá nhiều đồn đại (đôi khi không có thực) vào quãng 1962-1967, để rồi tàn lụi? Những thế lực giang hồ về sau này không thể có một vài phong cách hành xử "đẹp" như như Đại Cathay và đàn em trong một số trường hợp, tại sao? 

Có thể đưa ra hai lý do để tạm giải thích.

Thứ nhất, sau khi chế độ Ngô Đình Diệm sụp đổ, các tướng lãnh (nguỵ) cũng như các chính trị gia khi ấy chỉ lo đấu đá, hết đảo chính lại "chỉnh lý" rồi bầu cử (dỏm) để tranh chức tranh quyền, không mấy chú ý đến trật tự an toàn xã hội. Tổng nha Cảnh sát chủ yếu lo đối phó với Mặt trận Giải phóng miền Nam và đán áp sinh viên học sinh xuống đường, biểu tình chống chiến tranh, chống Mỹ-nguỵ, mà lơ là số du đãng quấy phá. Mãi đến khi Nguyễn Văn Thiệu lên làm tổng thống, thế chính trị đã tạm ổn, mới quay ra lập ra "Uỷ ban bài trừ du đãng trung ương" thì giang hồ đã đủ lông đủ cánh, thành một "thế lực" có tiếng tăm khá vang dội. 

Thứ nữa, khoảng giữa những năm 1960 là lúc triết học hiện sinh của Jean Paul Sartre ảnh hưởng khá nhiều đến miền Nam Việt Nam nói chung, giới thanh niên nói riêng. Rất tiếc, quan niệm "dân thân" (s'engager) của nhà triết học nổi tiếng người Pháp này lại bị hiểu theo một nghĩa khác là "sống hết mình", kể cả ăn chơi, trác táng cũng hết mình. Không ít thanh niên - nhất là số có nền văn hoá từ trung bình trở xuống - đã thể hiện quan niệm sai lệch này. Đồng thời đây phải chăng cũng là biểu hiện của không ít thanh niên khi ấy bế tắc trước cuộc sống: Tương lai mình không biết đi về đâu trước tình hình thối nát của chế độ miền Nam khi ấy, trong khi không dễ gì tự mình tìm đến với cách mạng, và cũng không dễ gì có gan đi theo cách mạng. 

Suy cho cùng, giới giang hồ cũng chỉ là một sản phẩm của xã hội. Chính xã hội bát nháo khi đó, với "thượng tầng kiến trúc" là các "chính khứa" xôi thịt đấu đá nhau, tranh giành quyền lực đã tạo ra lớp giang hồ ấy... 

Tôi còn nhớ đoạn được đoạn mất của một bài thơ sặc mùi "hiện sinh" mà Đại Cathay và Lâm Chín ngón rất mê, học được khi "đoong thóc" (tức nằm hút thuốc phiện) tại tiệm Khang Sinh (nằm gần khu Đại Thế Giới - vốn là nơi nhiều văn nghệ sĩ và dân giang hồ thời trước thường lui tới), từng đọc cho tôi nghe: 

Hắn mái tóc nâu vương niềm đau thế kỷ 

Quần blue jeans chung thuỷ bạc thời gian 

Bastos xanh gắn chặt ngón tay vàng... 

Theo thời gian hắn vươn mình cuồng loạn 

Lớp trẻ đôi mươi hôm nay cởi mở lòng 

Và trọn vẹn cho hắn sống 

Dù mất hồn như François Sagan, David Victor, 

Tương lai đâu?... 

Hai giờ đêm có kẻ mất hồn 

Hè đại lộ, bar, show, dồn dập on night 

Lê gót giầy nghiến từng lưng phố sá 

Crazy love, kêu em về mộng mị đắm say... 

Tuy nhiên, cũng chính nhờ hiểu lõm bõm về Sartre, Albert Camus, Andre Gide mà du đãng khi ấy còn ghi được một vài nét được gọi là "đẹp" của giới giang hồ như trên đã viết: Họ muốn tự coi mình vốn là người đàng hoàng, chẳng qua thời thế đưa đẩy mới trở thành giang hồ, và dù là giang hồ vẫn có những hiểu biết nhất định về cách đối nhân xử thế. 

Tiếc thay, vài nét được gọi là "đẹp" của giới giang hồ khi ấy cũng mai một dần, biến tướng dần, trong khi những đặc trưng khác của xã hội đen như cướp giật, thủ đoạn, tranh giành địa vị, thanh toán lẫn nhau, kết bè kết phái, mua chuộc hối lộ... ngày càng phát triển; hầu như trở thành bản chất của các băng nhóm tội phạm hiện nay - sau hơn 40 năm. 

Vũ Quang Hùng

852.Sách giang hồ sài gòn tập cuối

Chương VIII

www.328.vn sưu tầm

VỆ ĐẠI VƯƠNG 328 Dr ĐĂNG CHO VAY

Tác giả viết bài này từng bị giam tại chuồng cọp trại 7, khu C, Côn Đảo gần hai năm (từ giữa năm 1973 đến 30-4-1975). Trong số tám khu biệt giam chuồng cọp thuộc trại 7, riêng khu C đúng nhốt tội phạm hinh sự "thú dữ" và bọn du đãng "có vằn có vện". 

Cứ hai người một phòng giam, luân phiên một vài tháng lại đổi người, nên tôi có dịp làm quen, tìm hiểu khá kỹ về giới giang hồ năm xưa. Khi bị giam ở Chí Hoà, tôi còn gặp cả bọn Chương Khùng, Việt Parker - và trước nữa, trong lần ở tù 1965-1970 là Đại Cathay, trùm du đãng nổi tiếng nhất hồi đó - nên có thể nói phần nào tôi có điều kiện "thâm nhập" giới này. 

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, khoảng giữa những năm 1980, con trai tôi học Taekwondo tại võ đường Hồ Xuân Hương, quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh, chung với con trai của Năm Cam. Và nhân một lần tổ chức sinh nhật cho con trai tôi tại nhà riêng (tôi cho phép con mời một số bạn học việc và bạn học võ chung lớp), Năm Cam chở con trai y tới nhà tôi làm quen. Hinh như Năm Cam cố ý tìm cơ hội đến làm quen với tôi (khi ấy tôi đang làm phó Tổng Biên tập Bảo Công an TP. HCM, tạm gọi là có chút địa vị. Và tôi trở thanh một trong những nhà báo đầu tiên - nếu không dám nhân là nhà báo đầu tiên - quen biết với Năm Cam. Thế là thông qua Năm Cam và đàn em của y, tôi cũng biết thêm khá nhiều về giới giang hồ tại TP. HCM sau này. 

Do đó, căn cứ vào hiểu biết cả nhân, tôi xin mạnh dạn đưa ra một số nhận xét của mình về những điểm khác biệt của giới giang hồ xưa và nay. Tất nhiên những nhận xét của tôi hoàn toàn do chủ quan, rất có thể phiến diện, còn nhiều sai sót và không được nhiều người đồng tình. Tôi xin sẵn sàng tiếp thu những ý kiến khác, kể cả trao đổi bổ sung, thậm chí đối lập với ý kiến của tôi. 

Tôi không kể những điểm giống nhau trong giới giang hồ, vì thời nào chẳng vậy, họ là thủ phạm gây nên nhiều vụ án hinh sự nghiêm trọng từ cướp của tới giết người, từ đâm thuê chém mướn tới đánh lộn đánh lạo, từ tổ chức sòng bạc, buôn bán ma tuý tới cho vay nặng lãi, bảo kê các vũ trường, quán bar, thậm chỉ gầy động mãi dâm, v.v... và v.v... 

Mặt khác họ tìm cách hối lộ, mua chuộc các quan chức trong bộ máy nhà nước, nhất là quan chức trong các lực lượng liên quan đến pháp luật như công an, toà án, kiếm sát. Họ cũng "kết" với một số nhà báo, nhà văn đề khti viết bài tố cáo họ (nếu những người này viết tốt về họ thì càng hay), thậm chí đưa "phòng bì" cho số được coi là nhà báo, nhà văn nay (trong vụ án Trương Văn Cam, có hai nhà báo liên quan, đã nhiều lần nhận tiền của hắn nên cũng bị ra toà, lãnh án tù là Nguyễn Hoàng Linh của bảo Tuổi Trẻ và Võ Quang Thắng của báo Công an TP.HCM). 

Tuy nhiên, trong giới giang hồ trước đây luôn có một số điều luật bất thành văn mà giới giang hồ sau này không tôn trọng. 

Trước hết, giang hồ cũ không bảo giờ "đụng" với quan chức thực thì pháp luật. Đại Cathay lẫy lừng là vậy mà sau lần lỡ tay giựt cùi chỏ đánh Cò Ly (Trưởng ty Cảnh sát quận 1) tại vũ trường Tự Do đã phải trốn chui trốn nhủi, nhờ người đứng ra dàn xếp, xin lỗi. Kết cuộc, Đại Cathay phải chịu hinh phạt của Cò Ly: Cấm không được lui tới những vũ trường, nhà hàng mà Cò Ly đã có mặt trước - Cò Ly cho rằng Đại Cathay đã phạm tội "khi quan" (!) 

Cũng vì dám động đến đám lính không quân (dù chưa làm ai bị thương chớ đừng nói đến chết) mà nguyên đám giang hồ của Đại Cathay bị xoá sổ vào năm 1966. 

Giang hồ sau này khác hẳn; đụng quan chức, kể cả công an cũng "chơi" luôn: Dám dùng dao đâm chết cảnh sát Phan Lê Sơn ngay tại một quán nhậu ở trung tam thành phố. 

Thứ nhi, tuy dân giang hồ thời trước cũng có đủ loại vũ khí, từ dao lê, mã tấu, côn nhị khúc... đến súng, lựu đạn; nhưng "hang nóng" (tức súng, lựu đạn) chỉ dùng để ăn cướp mà không bao giờ dùng đến khi thanh toán nội bộ hoặc đấu đá, thu phục lẫn nhau. 

Thí dụ, khi Đại Cathay muốn thâu tóm băng của Tin Mã Nàm ở khu vực Đại Thế Giới, Chợ Lớn, Đại chỉ huy đống binh hùng tướng mạnh mang theo dao búa gậy gộc tấn công đối thủ. Phe Tín Mã Nàm cũng vậy, chỉ dùng "tay nghề" tức võ thuật và tài sử dụng dao búa để kháng cự, dù cả hai phe súng ống đầy dẫy. Nhiều lần đụng độ bất phân thắng bại, có khi mỗi bên xuất quân tới mấy chục, nhưng chưa khi nào nghe tiếng súng nổ, cũng do đó bình thường đôi bên chỉ bị thương chớ không ai bỏ mạng bao giờ) 

Giang hồ khi xưa quan niệm, khi chỉ dùng "tay nghề" thi đấu, bên nào thua mới tâm phục khẩu phục. Cho nên, những "đại ca" thời trước đều phải vừa gan lì, vừa phải thường xuyên thao dợt võ nghệ, tập luyện thân thể, kể cả trong tù. Võ của anh em hầu hết không theo một trường phái cụ thể nào, không nhằm muá cho nhuyễn, "đi bài" cho đẹp, nhưng là những đòn thế giang hồ theo kiểu tổng hợp "thập cẩm" chủ yếu là làm bất cứ cách nào hạ được đối thủ, sát thương đối thủ như chơi. 

Trong khi giới giang hồ bây giờ hở một chút là "chơi hàng nóng". Cụ thể như Bình Kiểm, mau chóng có số má chỉ nhờ vào mấy khẩu súng. Hoặc Châu Phát Lai Em, nổi lên bước đầu nhờ khích một tay đàn anh đấu võ tay không, riêng Lai Em lén giấu dao trong áo, khi thấy nguy cơ thua liền rút dao đâm diệt đối thủ... 

Thứ ba, giang hồ ngày trưởc, dù đã lên đến hạng "đại ca" vẫn sẵn sàng trực tiếp thi thố tài năng khi cần thiết. Đại Cathay khi cùng một lô tay em lên Đà Lạt, gặp trùm du đãng xứ sương mù là Xi Rỗ, Đại Cathay chơi "pạc co (par corps tức đấu tay đôi) liền, không chút sợ hãi (nếu là Năm Cam hay Hiệp Phò mã, dám chắc cả hai bỏ chạy có cờ). 

Thứ tư, ngày trước đã mang danh dân giang hồ là phải "chơi đẹp". Tất nhiên không phải hiểu "chơi đẹp" theo nghĩa thông thường là chi tiêu hào phóng, rộng rãi; mà là đối với bạn bè - dù bất cứ thành phần đối tượng nào đã kết thân coi như bạn - phải đàng hoàng, không nói dóc, hứa cuội, mà giữ gìn chữ tín, nể trọng lẫn nhau.

Mãi đến bây giờ tôi vẫn còn ân hận một chuyện: Khoảng đầu 1977 tôi gặp lại Huệ Râu, trước bị giam chúng với tôi tại chuồng cọp khu C, trại 7. Anh em mừng mừng tủi tủi, ôn lại đủ thứ chuyện hồi bị giam chung tại khu C trại 7 ngoài Côn Đảo. Thấy anh gầy và xanh, tôi sực nhớ có nghe một cựu tù nhân kể anh chơi xi ke, tôi hỏi nhưng anh chối. Tôi nói dứt khoát: "Nếu anh không chơi thứ đó thì tốt. Nhưng nếu còn dính đến xì ke thì đừng gặp tôi nữa". Từ đó tôi không bao giờ gặp lại anh, sau này nghe tin anh chết mà vẫn không bỏ được thứ ma tuý ấy. Phải chi lúc ấy tôi đừng qua "căng" hoặc Huệ Râu cứ nói dối tôi có thể sự việc đã đổi khác. Tôi kết thân với anh em giang hồ cũ chính là nhờ điểm này. Đến tận lúc chết, Lâm Chín ngón vẫn tự coi là "đàn em" của tôi một cách rất thật tình. 

Giang hồ thời nay không thiếu gì kẻ lừa thầy phản bạn, bán đứng anh em, từ "chơi đẹp" gần như đã chìm hẳn vào quá khứ. 

Cũng chinh một phần nhờ "chơi đẹp" mà giang hồ năm xưa mới nổi đình đám, được cảm tình của một số người, trong đó các doanh nhân, văn nghệ sĩ, và cả một số lính, cảnh sát của chế độ cũ (như Lành là cảnh sát Tổng nha theo làm tài xế cho Đại Cathay; Sáng và Cu Quì là người nhái làm đàn em của Đại...). 

Thêm một câu hỏi: Tại sao giang hồ Sài gòn lại rộ lên, với khá nhiều đồn đại (đôi khi không có thực) vào quãng 1962-1967, để rồi tàn lụi? Những thế lực giang hồ về sau này không thể có một vài phong cách hành xử "đẹp" như như Đại Cathay và đàn em trong một số trường hợp, tại sao? 

Có thể đưa ra hai lý do để tạm giải thích.

Thứ nhất, sau khi chế độ Ngô Đình Diệm sụp đổ, các tướng lãnh (nguỵ) cũng như các chính trị gia khi ấy chỉ lo đấu đá, hết đảo chính lại "chỉnh lý" rồi bầu cử (dỏm) để tranh chức tranh quyền, không mấy chú ý đến trật tự an toàn xã hội. Tổng nha Cảnh sát chủ yếu lo đối phó với Mặt trận Giải phóng miền Nam và đán áp sinh viên học sinh xuống đường, biểu tình chống chiến tranh, chống Mỹ-nguỵ, mà lơ là số du đãng quấy phá. Mãi đến khi Nguyễn Văn Thiệu lên làm tổng thống, thế chính trị đã tạm ổn, mới quay ra lập ra "Uỷ ban bài trừ du đãng trung ương" thì giang hồ đã đủ lông đủ cánh, thành một "thế lực" có tiếng tăm khá vang dội. 

Thứ nữa, khoảng giữa những năm 1960 là lúc triết học hiện sinh của Jean Paul Sartre ảnh hưởng khá nhiều đến miền Nam Việt Nam nói chung, giới thanh niên nói riêng. Rất tiếc, quan niệm "dân thân" (s'engager) của nhà triết học nổi tiếng người Pháp này lại bị hiểu theo một nghĩa khác là "sống hết mình", kể cả ăn chơi, trác táng cũng hết mình. Không ít thanh niên - nhất là số có nền văn hoá từ trung bình trở xuống - đã thể hiện quan niệm sai lệch này. Đồng thời đây phải chăng cũng là biểu hiện của không ít thanh niên khi ấy bế tắc trước cuộc sống: Tương lai mình không biết đi về đâu trước tình hình thối nát của chế độ miền Nam khi ấy, trong khi không dễ gì tự mình tìm đến với cách mạng, và cũng không dễ gì có gan đi theo cách mạng. 

Suy cho cùng, giới giang hồ cũng chỉ là một sản phẩm của xã hội. Chính xã hội bát nháo khi đó, với "thượng tầng kiến trúc" là các "chính khứa" xôi thịt đấu đá nhau, tranh giành quyền lực đã tạo ra lớp giang hồ ấy... 

Tôi còn nhớ đoạn được đoạn mất của một bài thơ sặc mùi "hiện sinh" mà Đại Cathay và Lâm Chín ngón rất mê, học được khi "đoong thóc" (tức nằm hút thuốc phiện) tại tiệm Khang Sinh (nằm gần khu Đại Thế Giới - vốn là nơi nhiều văn nghệ sĩ và dân giang hồ thời trước thường lui tới), từng đọc cho tôi nghe: 

Hắn mái tóc nâu vương niềm đau thế kỷ 

Quần blue jeans chung thuỷ bạc thời gian 

Bastos xanh gắn chặt ngón tay vàng... 

Theo thời gian hắn vươn mình cuồng loạn 

Lớp trẻ đôi mươi hôm nay cởi mở lòng 

Và trọn vẹn cho hắn sống 

Dù mất hồn như François Sagan, David Victor, 

Tương lai đâu?... 

Hai giờ đêm có kẻ mất hồn 

Hè đại lộ, bar, show, dồn dập on night 

Lê gót giầy nghiến từng lưng phố sá 

Crazy love, kêu em về mộng mị đắm say... 

Tuy nhiên, cũng chính nhờ hiểu lõm bõm về Sartre, Albert Camus, Andre Gide mà du đãng khi ấy còn ghi được một vài nét được gọi là "đẹp" của giới giang hồ như trên đã viết: Họ muốn tự coi mình vốn là người đàng hoàng, chẳng qua thời thế đưa đẩy mới trở thành giang hồ, và dù là giang hồ vẫn có những hiểu biết nhất định về cách đối nhân xử thế. 

Tiếc thay, vài nét được gọi là "đẹp" của giới giang hồ khi ấy cũng mai một dần, biến tướng dần, trong khi những đặc trưng khác của xã hội đen như cướp giật, thủ đoạn, tranh giành địa vị, thanh toán lẫn nhau, kết bè kết phái, mua chuộc hối lộ... ngày càng phát triển; hầu như trở thành bản chất của các băng nhóm tội phạm hiện nay - sau hơn 40 năm. 

Vũ Quang Hùng

850.Sách giang hồ sài gòn tập 20

www.328.vn sưu tầm

VỆ ĐẠI VƯƠNG 328 Dr ĐĂNG CHO VAY

Lâm giúp công an "pha án" 

Chiếc xe hơi sang trọng đỗ trước cổng Bộ Công an (đường Nguyễn Trãi). Người đàn ông xách cặp táp ngồi trên băng sau vừa mở cửa xe bước xuống; bỗng một xe gắn máy chạy ngang, tên ngồi phía sau giật phăng cặp táp, ngọt xớt, và xe găn máy tăng tốc mất hút... 

Gay go là trong cặp có nhiều tài liệu mật. 

Chuyên án lập tức được mở. Các trinh sát giỏi nhất được tung vào cuộc. Một ngày... hai ngày... rồi một tuần vẫn chưa lần được manh mối nào. Lâm Chín ngón được mời tới giúp. 

Sau đây là lời Lâm kể với tôi: "Em kêu ngay bọn ba binh ba tướng thường giật dọc quanh khu vực Cộng Hoà, Đồng Tiến, Mả Lạng, nhắn "Tụi bay muốn sống phải đưa ngay chiếc cặp giật được lúc... ngày... Tụi bay đụng vào hang cọp rồi đó!'. Thì ra bọn chúng ngỡ trong cặp có tiền, đô-la, về giở ra coi mới hay toàn thứ tụi chúng không biết dùng vô làm việc gì, chỉ có nước bán... giấy vụn. Nay bọn chúng muốn trả lại cũng chẳng biết đường đâu mà trả, thêm nỗi sợ tù tội. Nghe em nói tụi chúng đưa ra chiếc cặp táp còn nguyên vẹn... Sau đó các anh em công an để thưởng lãm, mở bữa tiệc nho nhỏ ăn mừng, kêu cả em và một số liên quan trong vụ này tới". 

Không biết lời Lâm kể có thể tin được bao nhiêu phần trăm, nhưng chắc chắn Lâm không thể dựng đứng hoàn toàn câu chuyện. 

Bị tạt a-xit 

Tôi biết Lâm ghét Năm Cam từ rất lâu. 

Không ít lần Lâm tâm sự với tôi: "Anh biết không, thằng Năm Cam thời anh Đại (Đại Cathay) chỉ là tà-lọt ngồi gác sòng bài bên quận 4, học hành chẳng ra sao, không có số má gì, thế mà bây giờ chỉ nhờ khéo nịnh, giỏi hối lộ mà thành trùm". 

(Lâm từng theo học chương trình Pháp tại trường Trung học Taberd, Sài gòn cũ - góc Hai Bà Trưng - Ly Tự Trọng, nay một phần thành trường Trần Đại Nghĩa). 

Lần nào tôi cũng đáp: "Thôi thì gặp thời thế mà. Chuyện ngưởi khác mặc họ, miễn là mình đàng hoàng...". 

Nói vậy chớ tôi biết Lâm không những nói xấu Năm Cam với tôi mà còn tỏ vẻ khinh bỉ, ghét Năm Cam ra mặt với khá nhiều dân chơi cũ cũng như mới. Và thế nào tin này chẳng đến tai Năm Cam. 

Cũng có lẽ vì vậy Năm Cam sai đàn em "khử" Lâm Chín ngón. Nhưng bọn chúng biết, nếu chơi theo kiểu đấu tay đôi với Lâm khó đứa nào chơi lại (Lâm cao 1,7m, chắc nịch nhờ thường xuyên tập tạ, nổi tiếng sát thủ với các ngón võ giang hồ). 

Và thế là chúng nghĩ ra chiêu độc: Tạt át-xit. 

Tôi nghĩ không gì trung thực bằng lời kể của chị Liên, nên xin ghi lại nguyên văn: 

"Tối hôm 14-1-1999, lúc 7g30, vừa mới bán hết hàng, cu Bi con trai em đòi ăn phở nên anh Lâm chở hai mẹ con đi ăn tại tiệm phở Lợi ở cư xá Bắc Hải. Đến nơi, hai mẹ con xuống trước, em dắt con em đi vào quán còn anh Lâm dựng xe trước cửa quán. Lúc sau em nghe tiếng anh Lâm hét lên; quay lại em thấy đồ anh mặc lủng nhiều chỗ, mặt mũi bị cháy xém, em kêu lên anh bị tạt át-xit rồi anh ơi. Lúc đó trong quán rất đông người nhưng hỗn loạn em không thể biết ai đã tạt át-xít vào anh. Lúc đó anh còn hỏi: 'Em và con có bị sao không?'. Em nhìn anh lòng đau đớn sợ hãi, em với kêu taxi chở anh đến bệnh viện". 

May Lâm đeo kính nên hai mắt không bị hỏng hoàn toàn, nhưng thị lực giảm có đến hơn 90%. Lâm phải nằm nhiều bệnh viện để điều trị, mà thời gian lâu nhất là ở Bệnh viện chấn thương chỉnh hinh, qua nhiều lần phẫu thuật, tốn cả mấy trăm triệu. 

Thời gian này Lâm sinh ra chán đời, không muốn gặp bất cứ ai. Vợ Lâm, chị Liên, mua cho Lâm căn hộ chung cư ở Tân Bình, giấu tất cả bạn bè thân thuộc, để Lâm tĩnh dưỡng. 

Tâm trạng Lâm trong thời gian ấy khá hoảng loạn, thậm chí hoang tưởng, lúc nào cũng nghĩ có ai đó muốn hại mình, nên đôi khi nghi ngờ cả tôi cũng muốn hại anh ta (sau nay chị Liên mới kể tôi nghe, chị kể đến cả chị cũng không ít phen bị Lâm nghi). 

Tuy nhiên, lâu lâu, không gặp tôi, Lâm lại nhờ chị Liên nhắn tôi lên gặp gỡ, tâm sự. Thoạt đầu, Lâm không chút nghi ngờ kẻ hại mình lại là Năm Cam, mà nhất định đổ riệt cho băng giang hồ ngoài Vũng Tàu, hận Lâm vì phá đất làm ăn của chúng nên rắp tâm trả thù (trước cảnh sát điều tra, mới đầu Lâm cũng khai như vậy. Khi họ cho Lâm biết thủ phạm là đàn em Năm Cam và kẻ chủ mưu chính là Năm Cam, Lâm vẫn kể với tôi cũng chưa chắc đã đúng; tôi phải nói "chớ Lâm không tin nhân viên điều tra, không tin lời khai của Năm Cam hay sao? Ngu gì Năm Cam tự vơ thêm tội vào mình?" Lâm mới chịu từ bỏ ý nghĩ ban đầu đã trở thành định kiến). 

Từ khi trở thành người không còn lành lặn như xưa, Lâm đổi tính, không còn vui vẻ, cởi mở với mọi người; mà trở nên lầm lì, ít nói. 

(Tôi cũng xin mở ngoặc thêm chuyện đi tu của Lâm: Lúc này Lâm và chị Liên đã có một bé trai kháu khỉnh, cu Bi, đang học tiểu học). 

Để phần nào giúp Lâm vừa tránh gặp mặt mọi người, vừa có việc làm nhẹ nhàng giết thời gian hầu lãng quên quãng đời lắm gian truân trước đây, chị Liên mua một mảnh đất tuốt bên huyện Nhà Bè, sát mé sông. Tại đây, chị xây nhà, làm chuồng heo, đào ao nuôi cá, cất rượu lấy hèm cho heo ăn, đưa Lâm về bên đó sống biệt lập, xa lánh tất cả... 

Nhưng những vết sẹo trên mặt do bị tạt át-xít tuy đã lành vẫn thỉnh thoảng khiến Lâm vô cùng đau đớn - cả theo nghĩa bóng lẫn nghĩa đen, nhất là những khi trái gió trở trời. Không ít lần Lâm nói với tôi "Em nghĩ thà chết cho bớt đau". 

Và quả Lâm nói sao làm vậy. 

Ba lần tự tử 

Phải nói ngay, không mấy người có cái gan như Lâm Chín ngón, kể cả gan tìm đến với cái chết. 

Lần đầu Lâm tự tử bằng cách uống thuốc ngủ, dễ có tới hàng trăm viên. Chị Liên vội chở Lâm vào bệnh viện kịp thời súc ruột cứu sống Lâm. Theo chị Liên, một phần nhờ thời gian gần đây Lâm thường xuyên mất ngủ nên hầu như tối nào cũng phải dùng loại thuốc này do đó lờn thuốc. 

Trước khi uống thuốc ngủ, Lâm để lại lá thư tuyệt mạng cho vợ: 

"Liên yêu quý, 

Anh rất mãn nguyện vì yêu em. 

Anh vĩnh biệt em vì muốn bảo vệ danh dự gia đình em và xã hội. 

Con anh sẽ không buồn tủi vì có một người cha có quá khứ xấu xa. 

Em yêu thương con như đã yêu anh..." 

Lần thứ hai, Lâm nhảy từ trên nóc nhà bên Nhà Bè xuống đất. Lần này Lâm bị chấn thương cột sống khá nặng, phải nằm điều trị gần 3 tháng ở Trung tâm chấn thương chỉnh hình, nhưng rốt cuộc cũng thoát chết.

Lần cuối cùng. Lâm nhảy vào thùng kháp rượu đang sôi sùng sục, và lần này, Lâm ra đi vĩnh viễn. Chuyện xảy ra vào quãng 12 giờ trưa ngày 30-8-2006. 

Đâu khoảng 1 giờ trưa hôm ấy, chị Liên hốt hoảng gọi điện thoại cho tôi, báo tin. Chị cũng kêu tôi sang ngay Nhà Bè để nhờ lo liệu mối thủ tục. 

Tôi còn nhớ như in, khi tôi tới nơi, hiện trường con nguyên vẹn, nhưng tôi không thể nào diễn đạt. Đến tận bây giờ, những hình ảnh phút cuối đời của Lâm Chín ngón vẫn còn như in trong óc tôi, nhất là mỗi lần nghĩ đến người em kết nghĩa năm nào. 

Tôi chỉ biết cầu nguyện cho người quá cố được sống an lành bên kia bờ thế giới. Nếu có sống lại kiếp sau, xin đừng trở lại cuộc đời giang hồ đầy bất trắc. 

Lâm đã không ít lần tâm sự với tôi muốn trở lại cuộc đời lương thiện, làm ăn đàng hoàng, tử tế. Và, từ trong thâm tâm, tôi biết Lâm cũng rất muốn vậy. Nhưng nhiều khi cây muốn lặng mà gió chẳng muốn dừng, có thể một phần lỗi do Lâm tư tưởng không mấy vững vàng, thêm tác động của bè bạn, xã hội đưa đẩy. 

Khi đến báo Thanh niên đưa tin buồn về Lâm, tôi cũng nhớ lời chị Liên dặn, yêu cầu đừng nói gì thêm, thậm chí không viết rõ Lê Ngọc Lâm là tên thật của Lâm Chín ngón. 

Mới đó thấm thoắt đã gần 5 năm kể từ ngày Lâm mất...

849.Sách giang hồ sài gòn tập 19

www.328.vn sưu tầm

VỆ ĐẠI VƯƠNG 328 Dr ĐĂNG CHO VAY


đến Vũng Tàu 

Bẵng đi một thời gian, Lâm từ biệt tôi, nói ra Vũng Tàu để làm ăn. Đang lúc bận rộn công việc, tôi không mấy để ý, cũng chẳng tò mò hỏi Lâm ra đó làm ăn cụ thể ra sao. 

Tuy nhiên thời gian mới ra Vũng Tàu và sau đó khoảng nữa năm, Lâm làm ăn có vẻ khấm khá, mỗi lần về lại Thành phố Hồ Chí Minh gặp tôi thường gởi tiền, quà cho con gái. 

Mãi sau này nhân một lần vui miệng, Lâm mới kể tôi nghe anh ta ra Vũng Tàu nổi đình đám ra sao. Theo lời Lâm thì... 

"Em ra Vũng Tàu; cầm đầu bảo vệ cho một nhà máy thu mua cá, mực, tôm; ốc... nói chúng là hải sản, vựa rất lớn. 

Nhà máy ngày càng ăn nên làm ra khiến một cơ quan cạnh tranh bực mình, muốn giành mối. 

Chiều nọ, một tốp có đến cả chục tên đầu trâu mặt ngựa, đứa nào cũng mang theo vũ khí; đứa dao, đứa kiếm, đứa thanh sắt, đứa côn nhị khúc... xông vào cổng nhà máy của em. 

Em bước ra, chặn chúng lại, hỏi: 

- Các anh muốn gì? 

Một tên mặt mày bặm trợn, ra vẻ đầu sỏ, quát: 

- Đây là địa bàn làm ăn của bọn tôi; anh muốn sống thì cút đi chỗ khác! 

- Nói vậy đâu được, chúng tôi ở nhà máy bên này, đâu đụng chạm gì tôi mấy anh? 

- Vậy là thằng này muốn chết! 

Và bọn chúng hò hét, vung vẩy dao, kiếm như muốn ăn tươi nuốt sống em. 

Em ngó lui: Mấy đứa bảo vệ chung với em nháo nhác lo chuồn ngay khi em bước ra nói chuyện với bọn này. 

Với anh là người đầu tiên em mới nói thật, lúc này em muốn chuồn thì cũng đã quá muộn vì mười mấy đứa hinh như có bàn tính trước, đã vây quanh em. Em tính quơ đại thứ gì làm vũ khí cũng không thể kịp; vả lại, dù có vũ khí cũng không cách nào một mình chống đỡ nổi số địch thủ đông như vậy. Karate không bằng ka-ra-bu, tức bu lại mà đánh. Vô kế khả thi, đàng nào cũng chết, em xuống tấn thủ thế, đánh nước liều: 

- Chưa chắc thằng nào chết! 

Vừa lúc em tính mình từ chết đến bị thương thì bỗng phía bên trong có nhiều tiếng la hét, hàng mấy chục công nhân tay cầm cây khiêng cần xé thủy sản, hoặc dao làm cá bén ngọt xông ra. Thì ra mấy đứa bảo vệ chung với em chạy vô báo lại tình hình, công nhân thấy động đến miếng cơm manh áo thiệt thân với họ, họ hè nhau nhất tề ra đánh đuổi bọn du đãng. Lúc này tình thế đã đảo ngược, nhân số phe ta đông hơn hẳn, áp đảo phe địch, hơn nữa ai cũng có vũ khí. Bọn đầu trâu mặt ngựa vội bỏ chạy có cờ... 

Mới biết hay không bằng hên. Mọi người đâu ai biết em nhát gan chỉ được nước liều mạng, khen em hết cỡ, nào là "một mình dám chống lại cả hơn chục đứa", nào là "tay không đánh với kiếm, dao, tuýp sắt," nào là "đứng giữa đám đông côn đồ vây quanh vẫn tỉnh bơ,"... Rồi họ còn thêm mắm dặm muối... 

Dù sao, sau vụ đó em trở nên có "uy" nhưng cũng bị không ít kẻ ganh ghét. 

Phàm ở đời, nói quá đi bị ghen tị. Và cũng chính vì bị ghen tị, sau một thời gian Lâm lại dạt về Thành phố Hồ Chí Minh. 

Năm 1994, Lâm gá nghĩa với một phụ nữ chí thú làm ăn, đã qua một đời chồng - chị Liên, người mà Lâm gắn bó đến tận cuối đời, người chăm sóc, lo lắng cho Lâm những khi Lâm gặp hoàn cảnh khó khăn nhất. Mà lạ, ngay cả những người con riêng của chị Liên cũng thương yêu Lâm, chăm chút ông dượng ghẻ. 

Những ngày Lâm ra toà (với tư cách nhân chứng và người bị hại) trong vụ xử án Năm Cam và đồng bọn, chị Liên luôn dìu dắt Lâm, đứng cạnh Lâm. Khi ấy, thần kinh Lâm đã bị khủng hoảng (từ sau vụ bị tạt át-xit), thậm chí chị còn hỏi trước Lâm sẽ khai những gì để khuyên nhủ Lâm khai sao cho có lợi. 

Đến tận bây giờ, mỗi khi gặp chị Liên, nhắc lại những kỷ niệm về Lâm, chị vẫn bùi ngùi. Ngay khi viết bài bảo này, thoạt đầu chị cũng ngại ngần muốn mọi việc chìm vào dĩ vãng, chuyện đã qua cho qua. Tôi thuyết phục mãi, cuối cùng chị đồng ý, lại còn cung cấp hình ảnh và một số tư liệu về Lâm. 

Lâm giúp tôi 

Đúng ra không phải giúp tôi, mà là giúp một người bạn của tôi, bác sĩ Bê công tác tại bệnh viện Nguyễn Trãi, có nhà riêng ở huyện Bình Chánh. 

Chuyện liên quan đến giới giang hồ nên phải nhờ Lâm giúp. 

Số là, bác sĩ Bê mở quán ăn tại nhà riêng, thường bị bọn côn đồ địa phương đến quấy phá, như đòi tiền bảo kê, ăn uống thiếu nợ, đòi thu "thuế"... 

Bác sĩ Bê biết tôi quen một số tay anh chị, nhờ xem có cách nào giúp. Tôi tìm Lâm, kể lại mọi việc, giới thiệu Lâm với bác sĩ Bê. Lâm nói "bạn của anh cũng như anh của em," và bắt tay vào việc. 

Hơn một tuần sau, bác sĩ Bê vui ra mặt, nói với tôi mọi việc đã ổn thoả đâu vào đấy, nhờ tôi gởi lời cảm ơn Lâm, nhưng tình tiết cụ thể Lâm làm cách nào thì anh ta không rõ. 

Gặp lại Lâm, tôi nhắn lời cám ơn của bác sĩ Bê, vui miệng hỏi Lâm giải quyết cách nào mà ổn thoả nhanh và hiệu quả vậy. 

Lâm cười cười: 

- Đối với em việc dể như trở bàn tay. 

Và theo lời Lâm, anh ta xuống ngay địa bàn nơi bác sĩ Bê có quán ăn, hỏi thăm những kẻ có "số má" cầm đầu tại đây. Xong, Lâm trực tiếp gặp những tên sừng sỏ, côn đồ miệt vườn nay. Vừa nghe tên tuổi Lâm Chín ngón, bọn chúng đều muốn diện kiến đại ca. Lâm nhắn nhủ với cả bọn: "Đây là bạn đại ca của tao, tụi mày vuốt mặt phải nể mũi, không được léng phéng ở quán của bác sĩ Bê, nghe chưa?" Đơn giản vậy thôi. 

Cũng nhân vụ giải quyết "tép riu" này, Lâm kể tôi nghe một việc Lâm giúp mấy anh công an giải quyết một vụ việc lớn hơn, phức tạp hơn nhiều, xảy ra vào khỏang giữa thập niên 1990 - vụ một nhân vật quan trong bị giật chiếc cặp-táp có đựng tài liệu quan trọng ngay trước cổng trụ sở Bộ Công an tại Thành phố Hồ Chí Minh. Chuyện bây giờ mới kể... 


848.Sách giang hồ sài gòn tập 18

www.328.vn sưu tầm


VỆ ĐẠI VƯƠNG 328 Dr ĐĂNG CHO VAY

Đại ca thứ thiệt 

Một tối nọ, có bọn thanh niên lực lưỡng, mặt mày bặm trợn, chỉ cần liếc qua tướng tá, quần áo, cử chỉ cũng biết ngay là dân giang hồ không phải loại tầm thường vô quán đòi ngồi ở phòng riêng, kêu bọn em gái bia ôm hầu bàn. Ăn đã đời từ hơn bảy giờ tối gần 11 giờ đêm, uống hết hơn một thùng bia bọn họ mời gọi tính tiền. Nhưng khi giấy tính tiền đưa tới bàn, họ thậm chí không thèm liếc nhìn qua tờ giấy, mà một vị khách thọc tay vô bụng rút luôn ra... khẩu súng ngắn, dằn mạnh lên mặt bàn, buông thõng một câu xanh dờn: 

- Không có tiền, trả bằng thứ này được không? 

Cả bọn em gái hoảng hồn la oai oái, tranh nhau chạy ra khỏi phòng. Chủ quán nghe mấy em cấp báo, lính quýnh vừa run vừa kêu Lâm Chín ngón đến giải quyết. Lâm mở cửa bước vô phòng, việc đầu tiên là nhào đến chụp ngay khẩu súng, tất nhiên khôn ngoan cầm phía bá súng. Gã thanh niên hớt tóc ngắn to con nhất trong bọn, có vẻ là tay cầm đầu, cũng nhanh như chớp vung tay chộp súng, kéo lại, miệng quát: 

- Ê, mày làm gì vậy? 

Lâm bình tĩnh: 

- Các anh nói trả thứ này thay cho tiền nên tôi lấy! 

Nghe đối thủ trả lời cứng cựa, gã không thèm đáp mà ra sức giành lại vũ khí. Hai bên cùng nín thở thi triển 10 thành công lực, gồng hết cơ bắp, thử sức một phen cho rõ tài cao thấp. Kéo qua kéo lại, một lát sau Lâm Chín ngón dần dần thắng thế thấy rõ, có thể một phần do anh ta nắm ngay bá súng nên chiếm lợi thế nhờ có điểm tựa chắc chắn hơn. Dù sao, với dân chơi thứ thiệt, hễ thua thì nhận thua. Gã tóc ngắn đành buông súng ra, kêu: 

- Khá lắm, khá lắm. Mày làm gì ở đây mà dám can thiệp vào chuyện của bọn tao? 

- Đây là quán của người quen tôi, nhờ tôi coi giúp. Nuôi quan ba năm nhờ đến một giờ. Đây là nồi cơm của tôi nên tôi phải giựt. Nếu tôi tới quán mấy anh quấy, chắc chắn mấy anh cũng phải làm như tôi thôi. 

Vừa nói Lâm vừa chìa tay đưa lại khẩu súng cho đối thủ, thêm: 

- "Chó lửa" của các anh đây. Thử sức cho vui vậy thôi, chớ tôi biết các anh nói giỡn, vì đây là đồ làm ăn, vật bất ly thân của các anh đời nào các anh trả cho quán; và lại nếu tính trị giá, nó hơn hẳn tiền ăn nhậu từ tối đến giờ". 

Tên tóc ngắn dịu giọng: 

- Nói nghe có lý lắm. Nếu vậy cũng là anh em trong nhà cả, không lẽ chơi quỵt nhau. Được rồi. Không nhận súng thì lấy thứ này vậy! 

Nhanh hơn cả làm trò ảo thuật, hắn rút trong túi ra một trái lựu đạn đặt cái "cộp" lên mặt bàn. 

Nhiều tiếng la oai oái nổi lên phía ngoài cửa phòng và tiếng chân chạy rầm rập. Thì ra nãy giờ chủ quán và mấy "em gái" thập thò ngoài cửa theo dõi diễn biến tình hình, nay hoảng quá tranh nhau co giò manh ai nấy chuồn cho lẹ. 

Lâm vội quay người một vòng, đưa chân đá cánh cửa. "Sấm" một tiếng, cánh cửa khoá tự động đã đóng lại. Lâm Chín ngón cố giở giọng thản nhiên: 

- Lỡ chơi thì chơi luôn! Một đổi bốn còn lời chán! Và lại đời tôi sống cũng đủ lắm rồi. Cứ cho nổ! 

Tính dằn mặt đối thủ, ai dè gặp thứ thiệt, đám thực khách không còn cách nào khác hơn là chấp nhận xuống nước. "Trời không chịu đất thì đất đành phải chịu trời". Tên có hàm râu quai nón trong bọn lên tiếng, đổi giọng: 

- Thấy anh nãy giờ tôi nghĩ không phải thứ mới vào nghề chưa có số má gì. Anh nói thật cho tụi tôi biết anh là ai? 

Lâm thở dài: 

- Từ lâu lắm tôi đã cố quên tên của mình. Nay các bạn hỏi tôi cũng xin nói thiệt. Cách nay hơn mười năm tôi cũng tạm gọi là có chút danh vọng. Anh em trong giới giang hồ khi ấy quen gọi tôi là Lâm Chín ngón. 

Cả bốn tên đều bắt giác đứng bật dậy, gã tóc ngắn hỏi: 

- Anh là Lâm Chín ngón? Đâu, anh cho xem bàn tay trái thử coi. 

Lâm Chín ngón vốn là biệt danh của Lâm sau một trận đụng độ ác liệt giữa hai nhóm dân chơi của Đại Cathay và Tin Mã Nàm tại ngay trước khu Đại Thế Giới. Trong trận kịch chiến này, khi cố giải cứu Ba Thế, một trong "tứ đại ca" (Đại, Tỳ, Cái, Thế), Lâm bị một thanh mã tấu xớt mất ngón tay cái của bàn tay trái. Nãy giờ, khi thử sức Lâm dùng tay phải nên chưa ai thấy bàn tay trái của anh ta. 

Khi Lâm vừa xoè bàn tay trái với bốn ngón ra thì cả bọn đưa đưa cả hai tay ôm vai anh ta, đứa cấm tay lắc lấy lắc để, đứa chắp hai tay xá lia lịa: 

- Xin lỗi đại ca, xin lỗi. Nãy giờ tụi em không biết lõ xúc phạm đến đại ca. Anh em trong nhà cả, đại ca không nói sớm. Đâu, chủ quán đâu? 

Thì nãy giờ chủ quán nấp ngay sau cánh cửa chớ đâu. Vừa nghe gọi lập tức chủ quán bước vô phòng... 

Tên hớt tóc ngắn bảo: 

- Đưa hoá đơn tính tiền coi! 

Chủ quán đã lấy lại bình tĩnh: 

- Đã khi nãy đưa rồi mà. 

Tên râu quai nón cúi xuống gầm bàn lượm tờ giấy lên, đọc: 

- Một triệu bốn trăm năm mươi ngàn. Tưởng nhiều, nhiêu đó nhằm gì! 

Gã móc túi lấy ra chiếc khăn, mở ra, bỗng gói vội lại, kêu "Lộn rồi!". Nhưng Lâm đã kịp nhìn thấy một đống nhẫn, dây chuyền, đồng hồ... trong khăn, đoán chừng bọn này vừa "ăn hàng" về, vô quán ăn mừng. Gã móc túi bên kia, phen này thì đúng là một bọc tiền. Tên hớt tóc ngắn giọng xởi lởi: 

- Trả luôn một triệu năm trăm ngàn cho chẵn. Ủa, còn mấy em gái khi nãy đâu? 

Thấy tình hình đã lắng dịu, "phe mình" thắng thế, mấy em gái bia ôm thập thò ngoài cửa phòng, chỉ chờ cơ hội là ăn theo, nhanh nhen bước vô. Một tên khác bảo: 

- Bo mỗi em một trăm ngàn chịu không? 

Thì mấy em chịu quá đi chớ! Tiền bạc xong xuôi, tên hớt tóc ngắn thân mật bắt tay Lâm Chín ngón: 

- Tụi em khi nãy không biết, lỡ đắc tội, đại ca bỏ quá cho. Khi nào có dịp ra Hải Phòng, đến bến Sau Kho, đại ca cứ hỏi Thanh bếp là ai cũng biết, tụi em xin tiếp đón trọng thế. 

Kể xong câu chuyện, Lâm Chín ngón thở dài tâm sự: "Anh ạ, từ sau tối hôm ấy em nghĩ cái mạng mình sống chết bất cứ lúc nào nếu còn theo cái nghề bảo kê ấy mà chết lãng xẹt. Nên em quyết bỏ bằng được". 

Từ Campuchia... 

Sau vụ bảo kê quán nhậu ờ Tân Sơn Nhất, đụng độ với băng giang hồ Hải Phòng, Lâm lo tu tỉnh làm ăn thật. Tuy nhiên do không có nghề ngỗng gì cụ thể, nên công việc làm ăn của Lâm nếu không coi là thất bại thì cũng không thể gọi là khấm khá. 

Khoảng đầu năm 1994, khi ấy tôi đang làm Tổng Biên tập tạp chỉ Người Du lịch, sáng một bữa nọ Lâm tìm đến tôi ở toà soạn. 

Lâm bắt tay tôi, giọng hơi bất bình thường: 

- Anh ạ, bữa nay em tới tạm biệt anh, mà cũng có thể là vĩnh biệt! 

Tôi ngạc nhiên: 

- Sao Lâm nói kỳ vậy? 

- Nếu hơn một tháng nữa mà anh không gặp em, không nghe tin tức gì về em tức là em đã chết, bỏ xác ở Campuchia. 

Tôi còn tưởng mình nghe lộn: 

- Lâm làm gì mà qua tận Campuchia? 

- Em nói thiệt. Ở đây làm ăn thất bại quá. Bên Campuchia hồi này người Việt qua làm ăn đông lắm, giang hồ cũng kéo qua đó, chia băng chia phái kèn cựa nhau. Chúng nhờ em qua... 

- Sao Lâm hứa với tôi rút khỏi dân chơi rồi mà? 

- Không. Chúng nhờ em qua hoà giải, vậy thôi. Em chỉ tin có anh, nên anh là người duy nhất em nói về việc đi Campuchia và chào tạm biệt. Ở bên này mãi, tiền bạc không có... 

- Như vậy Lâm qua đó, lạ nước lạ cái, làm sao đi lại, làm sao sống? 

- Có người dân Sài gòn, bảo đảm chi cho em ăn, ở, luôn cả lộ phĩ. Miễn sao em thu xếp cho anh em giang hồ người Việt bên đó đỡ kình chống nhau. Nhưng bọn xã hội đen bây giờ cũng tráo trở lắm, em qua cũng có thể bỏ xác quê người... 

Tôi nghe Lâm nói tự nhiên thấy bùi ngùi, móc ví sau túi quần, thấy trong ví còn hơn 300.000 ngàn đồng, liền đưa Lâm hết số tiền chẵn: 

- Lâm cầm đỡ ít tiền qua đó sinh sống. 

Lần đầu tiên tôi thấy Lâm rơm rớm nước mắt khi đưa tay nhận tiền: 

- Nếu còn sống, thế nào em cũng về gặp anh. Còn một điều nữa... Em có đứa con gái mới sinh... 

(Tôi không tiện viết thêm về cô con gái này cũng như người phụ nữ đã sinh con với Lâm - người này sau đã yên bề gia thất, không muốn ai biết nhiều về quan hệ trước đây của mình; và cô con gái riêng của hắn, nếu nay còn sống, cũng đã gần 20 tuổi, hẳn cũng muốn sống cuộc đời êm thấm) 

Thế nhưng khoảng hơn một tháng sau, bữa nọ Lâm lại đến gặp tôi cũng tại toà soạn báo Người Du lịch, gương mặt vui tươi: 

- Em vừa về tới, vội đến gặp anh ngay. 

Tôi tò mò: 

- Chuyện ra sao rồi? 

- Coi như xong. Tốt đẹp cả, vì bọn chúng đôi chút cũng nể mặt em. Nhưng ở bên ấy dễ bỏ mạng lắm, em chẳng thà về lại Việt Nam. 

847.Sách giang hồ sài gòn tập 17

www.328.vn sưu tầm

VỆ ĐẠI VƯƠNG 328 Dr ĐĂNG CHO VAY

Chương VII


Tôi quen Lâm Chín ngón đã lâu, viết về nhân vật này đã khá nhiều, nhưng chưa bao giờ viết về những ngày cuối đời của Lâm, cũng như cái chết của anh ta. 

Nay, trước hương hồn người đã mất, xin viết lại chuyện chưa bao giờ viết này. 

Và, để bạn đọc nắm được toàn bộ nội dung, xin lược qua lại những gì tôi biết về tay giang hồ cộm cán nổi tiếng từ thâp niên 1960 này. 

Tôi quen biết Lâm Chín ngón 

Tôi biết Lâm Chín ngón khi ở tù tại khu C, trại 7, Côn Đảo - thường gọi Chuồng cọp. 

Thời gian ở tù ngoài Côn Đảo (tôi bị án tù chung thân năm 1972, ra đảo đầu năm 1973), tuy tôi là tù chính trị nhưng lại bị nhốt chung một khu với tù hinh sự. 

Riêng Lâm ra đảo đâu khoảng đầu tháng 4 -1975, được đưa ngay vào khu C, một mình một phòng. Thời gian này tôi mới ở bệnh xá về, ở chung phòng với anh Giáo, thêm bị liệt chân phải đi lại khó khăn nên chỉ loáng thoáng biết có Lâm, tiếp đó là giải phóng 30-4, nên chưa thể nói quen Lâm. 

Sau ngay miền Nam hoàn toàn giải phóng, nhiều tù thường phạm bị nhốt trong khu C lợi dụng những ngày đầu giải phóng, công tác canh gác tù nhân còn sơ hở, trốn ra khỏi trại, phá kho tang vật, lấy cấp nhiều món đồ có giá trị trong kho như đồng hồ, nữ trang, tiền mặt... và bị trừng trị hết sức nghiêm khắc. 

Lâm Chín ngón không nằm trong số này, nhưng do án quá nặng (hai án chung thân về tội giết Vũ Định Cường, em Sơn Đảo; và Hoàng Đầu lâu) nên không được tha về hoặc lưu lại Côn Đảo như tất cả các tù thường phạm khác, mà tiếp tục chuyển về trại giam tại đất liền, mãi đến năm 1988 mới được tha. 

Tha về chưa được bảo lâu, qua số tù hình sự ở khu C trại 7 Côn Đảo trước đây, Lâm Chín ngón hỏi thăm, tìm tới tôi, kể cho tôi nghe suốt thời gian từ sau 30-4-1975 đến giờ anh ta đã sống ra sao. 

Nhắc lại thời gian ở chuồng cọp Côn Đảo, Lâm bùi ngùi kể số phận không may của những "dân chơi" cũ. 

Nói ngay, người em kết nghĩa này chưa khi nào nói dối, qua mắt tôi, luôn trước sau như một xưng hô cung kính anh em. Ngay cả đối với bã xã tôi Lâm cũng luôn hễ gặp là vòng tay chào hỏi, nói chuyện thường chắp hai tay, gọi chị xưng em hết sức đàng hoàng. 

Nghe Lâm kể quãng thời gian ngồi tù, tôi chỉ biết an ủi Lâm, khuyên anh ta từ nay nên cố sống lương thiện. 

Còn có một câu chuyện bây giờ tôi mới kể khi Lâm ở trong trại đã lừa đánh cán bộ cải huấn... 

Theo lời Lâm, có một cán bộ trong trại cải tạo không hiểu sao luôn tìm đủ mọi cách gây khó dễ cho Lâm khiến Lâm rắp tâm trả thù, nhưng phải đời thời cơ. 

Thời cơ đến khi một sáng sớm nọ, trước giờ vác cuốc lên đường trồng cây, cán bộ từ phía sau Lâm bước đến, mà ánh mắt trời in rõ bóng ông ta chiếu dài theo bước chân. Lâm đang vác cuốc thấy vậy liền sửa lại thế, hơi kéo cán cuốc đang vác trên vai về phía trước, theo dõi bóng đối thủ. Bởi "nạn nhân" đến đúng tam, Lâm bất ngờ làm như sửa lại thế vác, xô mạnh nguyên lưỡi cuốc ra phía sau, đúng vào mặt kẻ vừa bước đến, khiến ông ta ngã khuỵu, gãy một hơi mấy chiếc răng cửa. 

Tất nhiên Lâm chịu kỷ luật, nhưng đó Lâm khai "tôi đâu ngoảnh đầu lại mà biết cán bộ đang đi tới, chỉ vô tình sửa lại thế vác cuốc" và tại hiện trường quả đúng như vậy, nên kỷ luật tương đối nhẹ. 

Rồi Lâm Chín ngón kể tiếp từ ngày được tha, anh ta buôn bán thuốc tây ở khu đường 3 tháng 2, quận 10; cuộc sống chỉ tạm đủ vá víu qua ngày. Sau Lâm hùn với một tay đàn em cũ là Mười đen ra chợ Huỳnh Thúc Kháng buôn bán hàng điện tử (nghe đâu do Năm Cam giúp đỡ). Thấy Mười đen phò Năm Cam, và không muốn mang tiếng nhờ vả núp bóng đàn em, Lâm tách ra toan trở lại nghề bảo kê cho một số quầy bar quanh khu vực Tân Sơn Nhất. Có lẽ đây là quãng thời gian tuy ngắn ngủi nhưng lại có nhiều kỷ niệm đối với Lâm Chín ngón cũng như một số dân chơi khác. Nào mấy ai ngờ một "ông tướng" nay lại lại phải làm mặt rõ kiếm sống qua ngáy. Nhưng thôi, cuộc đời ai chẳng có lúc lên voi xuống chó. 

Và Lâm kể cho tôi nghe một kỷ niệm "nhớ đời" của anh ta trong quãng thời gian ngắn ngủi này... 

845. Sách Giang hồ sài gòn tập 17

www.328.vn sưu tầm

VỆ ĐẠI VƯƠNG 328 Dr ĐĂNG CHO VAY

Bất ngờ từ Năm Cam 

Mấy ngày sau, Ba Ớt gọi tôi cho biết sòng bài đang được theo dõi, không nên viết bài đánh động. 

Khi nghe tôi báo tin tôi không thể theo anh ta đến sòng bạc quận 4 để viết bài, Lâm thở ra, bảo: 

- Em cũng đã đoán trước có thể anh mắc kẹt, nlung vẫn có hy vọng. Ai dè Năm Cam quen biết lớn thật... 

Tôi cố giải thích: 

- Không hẳn vậy đâu, nhưng ở đời luôn có nhưng việc dù mình muốn mà không thể thực hiện, luôn có những việc mà mình không thể hiểu biết thấu đáo. Thôi Lâm ạ, cứ yên vui với cuộc sống của mình là được rồi, hơi đâu lo cho kẻ khác. 

Những Lâm vẫn tỏ vẻ bực đọc: 

- Anh nói vậy em nghe vậy. Những Năm Cam đâu có ra gì. Hồi nào nó tà lọt cho anh Đại, dưới cỡ em xa lắc, giờ chỉ nhờ khéo luồn lọt mà ngoi lên, bao nhiêu thằng theo nịnh. Phải chi nó có tài đã đành. 

Thì ra Lâm Chín ngón ganh ghét Năm Cam nên muốn qua báo chí "chơi" Năm Cam - tôi chợt hiểu ra cốt lõi của vấn đề. Lâm Chín ngón tiếp tục tâm sự: 

- Anh biết không, cách đây chưa lâu công an đánh vụ buôn lậu và sản xuất hàng giả tại làng thương binh Phước Bình, Thủ Đức. Em không biết rõ sự việc nhưng nghe nói huy động lực lượng mạnh lắm, quay cả phim để học tập rút kinh nghiệm đánh án trong nội bộ ngánh... 

Vụ làng thương binh Phước Bình thì tôi biết. Do dính liu đến thương binh vốn là vấn đề hết sức nhạy cảm nên công an thành phố và công an huyện Thủ Đức phải phối hợp với lực lượng kiểm soát quân sự, Bộ tư lệnh Thành và Huyện đội Thủ Đức để phá án. Đúng là khi ấy lực lượng công an có quay cuốn băng video về vụ này, nhưng tại sao Lâm Chín ngón cũng biết thì lạ thiệt. Giọng Lâm vẫn đều đều: 

- ... Nghe đâu chỉ cán bộ có tầm cỡ mới được coi bộ phim ấy, thế mà anh biết không, Năm Cam được "mời" xem phim. 

Xem xong, Năm Cam bị hỏi kiểu dằn mặt: "Nguyên cả làng thương binh Phước Bình cũng không thể chống nổi, liệu sòng bạc quận 4 của anh có chịu nổi không?". Năm Cam đáp nữa đùa nửa thật: "Dạ, dạ, sòng bạc của em sao chịu nổi, cũng nhờ mấy anh thương bỏ qua cho. Có điều muốn đánh sòng bạc của em, các anh phải huy động lực lượng gấp hai lần đánh Phước Bình". 

Anh nghĩ thử coi, Năm Cam nó quen biết cỡ đó và dám trả lời láo như vậy thì thật hết biết. 

Tôi khi ấy hoàn toàn không tin chuyện Năm Cam có thể ngồi xem cuốn phim được coi là tài liệu mật của ngành công an, những nếu không thì làm cách nào Lâm Chín ngón bịa chuyện y như thật? Tôi hỏi: 

- Dựa vào đâu mà Lâm biết chuyện về cuốn băng trên? 

- Thì chinh Năm Cam khoe với bọn đàn em nhằm trấn an bọn chúng cứ yên tâm hoạt động vì đã lo lót hết các cửa. Bọn chúng kể lại với em nên em mới rành chuyện. 

Một lần nữa tôi trấn an Lâm, nhưng lần này cũng là trấn an chinh mình: 

- Nghe qua nghe lại tam sao thất bổn. Chuyện khó tin lắm, không lẽ một trùm xã hội đen lại ngồi xem tài liệu mật chung với cán bộ công an có tầm cỡ. Có thể Năm Cam bốc phét loè em út đó. Thôi, mình cứ lo thân mình cho xong, hơi nào lo thiên hạ sự. 

Nãy giờ tôi quen chưa nói thời gian xảy ra sự kiện trên. Đó là vào quãng giữa năm 1992. Như vậy mối thù giữa Năm Cam và Lâm Chín ngón hẳn phải có từ trước đó nữa, đã lâu làm rồi. 

Mãi sau này, khi Năm Cam bị bắt, cơ quan điều tra phanh phui ra mới quan hệ móc ngoặc giữa Năm Cam và một số cán bộ có tầm cỡ của Công an Thành phố Hồ Chí Minh như (nguyên) Thượng tá Sài gòn Minh Ngoc, trưởng Phòng cảnh sát hinh sự; (nguyên) Trung tá Nguyễn Mạnh Trung, phó Phòng cảnh sát điều tra; và sự quen biết giữa Năm Cam với các cán bộ còn lớn hơn nữa như (nguyên) Phó Giám đốc Công an Thành phố Hồ Chí Minh Thân Thành Huyện và Vô Văn Mạng, v.v... tôi mới vỡ lẽ nguồn tin của Lâm Chín ngón là hoàn toàn có cơ sở để tin cậy. 

Như vậy rất có thể không phải Năm Cam đã "huếnh" lên về cuốn băng, mà hắn đã từng được mời xem thực và từng bị "nắn gân" thực. Câu trả lời của Năm Cam có thể do hắn bốc phét thêm mắm dặm muối nhằm "giật le" với bọn em út, nhưng cũng có thể xuất phát từ sự thật. Quả là toàn những chuyện khó tin nhưng có thực. 

Tôi cũng bất giác lạnh xương sống khi nghĩ nếu ngày ấy tôi cao hứng lên, theo Lâm Chín ngón vô sòng bạc tại quận 4 của Năm Cam, về viết bài, đang lên báo, thì nào ai mà biết được hậu quả sẽ ra sao! 

Và, ai mà biết được, chuyện Lâm Chín ngón tâm sự với tôi về sòng bạc đã bằng cách nào đó lọt đến tại Năm Cam, chinh vì vậy sau này Năm Cam tỏ ra lơ là với tôi và thêm lý do để hắn rắp tâm tạt át-xit Lâm nhằm trả thù, mối thù mà Năm Cam đã ấp ủ suốt hàng chục năm. 

Chuyện của giới giang hồ xã hội đen tôi nào muốn dính dáng đến, nhưng do hoàn cảnh đẩy đưa, muốn tránh cũng không được, thôi đành cố giữ lấy mình; điều gì giúp được anh em mà không trái luật pháp, không trái đạo lý làm người thì có giúp, không bằng hành động cụ thể thì bằng lời khuyên "phù thế giáo một vài câu thanh nghị", còn sự việc xảy ra thì mình tài hèn sức mọn làm sao can thiệp cho nổi, đành phó thác mặc cho số phận...

844.Sách giang hồ sài gòn tập 16

www.328.vn sưu tầm

VỆ ĐẠI VƯƠNG 328 Dr ĐĂNG CHO VAY

Sòng bạc quận 4 

Giờ xin trở lại với sòng bạc tại quận 4. 

Nghe qua lời Lâm giới thiệu về sòng bạc, tôi bán tín bán nghi. Không lẽ một sòng bạc lớn tới cỡ đó mà không cơ quan chức năng nào hay biết, nhất là chính quyền cơ sở và công an phường, cảnh sát khu vực. Nhưng quả thực Lâm Chín ngón nói dóc với ai thì tôi không rõ, chứ chưa khi nào anh ta nói dóc với tôi. Tôi nói thật ý nghĩ vừa thoáng qua của mình: 

- Vậy chớ Uỷ ban nhân dân và Công an phường, rồi Công an quận, chẳng lẽ không ai hay biết gì sao? 

Lâm lắc đầu: 

- Em không rõ, nhưng chắc là họ biết và có thể họ làm ngơ. Nhưng sao anh chưa trả lời liệu có dám đi với em lấy tư liệu về viết báo không? 

Tôi suy nghĩ rất nhanh, đánh giá nguồn tin, cân nhắc qua mọi tình huống, đáp: 

- Ý tôi rất muốn đi cũng với Lâm. Nhưng chuyện này qua lớn, có thể vượt ngoài khă năng của tôi, nên Lâm cho tôi suy nghĩ dăm ba ngày, sẽ trả lời Lâm sau. 

Lâm Chín ngón gật đầu: 

- Em cũng nghĩ anh khó quyết đoán ngay được. Nhưng dù vì bất cứ lý do gì, anh cũng đừng nói với ai rằng em đã báo nguồn tin này. Ít hôm nữa em sẽ tới gặp lại anh. 

Từ thâm tâm tôi qua thực rất muốn cùng Lâm Chín ngón mạo hiểm một chuyến, thâm nhập sòng bài để lấy tư liệu thực tế viết bài điều tra mà tôi tin rằng sẽ khá độc đáo. Nhưng tôi không thể tự mình mạo hiểm. Giả sử tôi có mặt tại sòng bài đúng lúc công an ập vô bắt quả tang, lại đúng khi tôi đang đặt tiền thì làm sao giải thích? Chưa kể tình huống xấu nhất, tôi bị những tay bảo vệ sòng bài phát hiện, tấn công mà Lâm Chín ngón cũng như đám tay chân của anh ta không đủ sức chống cự giải vây cho tôi, thì liệu thân tôi sẽ ra sao? 

Chỉ có cách tốt nhất là báo cáo lên lãnh đạo xin ý kiến, tuỳ trên quyết định, và tôi sẽ nghiêm chỉnh chấp hành quyết định ấy. 

Tôi gặp Huỳnh Bá Thành, tức Ba Ớt, khi ấy là thủ trưởng trực tiếp của tôi, Tổng Biên tập báo Công an Thành phố Hồ Chí Minh. 

Huỳnh Bá Thành về chức vụ tuy là cấp trên, nhưng đối với tôi vốn quen biết từ lâu, hồi còn làm báo tại Sài gòn, nên coi như chỗ bạn bè thân tình mày tao chi tớ. Nghe tôi kể qua câu chuyện sòng bạc quận 4, Ba Ớt bảo: 

- Nguy hiểm quá, nguy hiểm quá, mà ông tính xông vô đó thiệt hay sao? 

Tôi cười: 

- Có gì mà không thiệt. Sợ quái gì. Hồi trước bao nhiêu hiểm nguy còn chưa sợ, nay sợ gì một sòng bạc. 

Ba Ớt khất: 

- Nhưng tình hình bây giờ khác. Tôi không dám can, mà cũng không muốn khuyến khích ông. Bây giờ như vậy, nói thiệt ông nghe tôi cũng không dám quyết chuyện này đâu. Ông ráng chờ ít hôm để tôi phải xin ý kiến Ban Giám đốc Công an Thành phố mới được. Anh em mình quyết với nhau, rủi ông có chuyện gì bắt trắc, làm sao tôi trả lời với Ban Giám đốc? 

Huỳnh Bá Thành nghĩ vậy là đúng. Ngay khi trao đối với Ba Ớt, tôi cũng đã đoán anh ta sẽ "đẩy" lên cấp cao hơn nữa, nhưng dù sao tôi cũng đã làm tròn nhiệm vụ của tôi; và toàn bộ công việc của tôi lúc này chỉ là chờ đợi. Thực sự cho đến lúc ấy, tôi vẫn chưa biết ai là chủ nhân của sòng bạc tại quận 4 mà Lâm Chín ngón muốn dẫn tôi đi lấy tư liệu để viết bài. 

Trong khi ấy Lâm Chín ngón tỏ ra rất nôn nóng. Mới hai ngày sau anh ta đã tới gặp tôi, thúc giục: 

- Sao, anh đã xin ý kiến xong chưa? 

Tôi nói thật với Lâm là tôi đã báo cáo với Ban Biên tập, và còn phải báo cáo lên cấp cao hơn nữa. Việc chờ dợi do đó có thể không phải ba ngày, mà phải lâu hơn. 

843.Sách Giang Hồ Sài Gòn Tập 15

www.328.vn sưu tầm

VỆ ĐẠI VƯƠNG 328 Dr ĐĂNG CHO VAY

Ông tướng thứ 13 

Trước khi kể tiếp về sòng bạc ở quận 4, tôi xin quay ngược giòng thời gian chút đỉnh để nói qua mối tình quen biết giữa tôi với Lâm Chín ngón. 

Do tại Côn Đảo tôi bị nhốt chung với số anh em dân giang hồ thú dữ tại chuồng cọp khu C trại 7 suốt hai năm (từ khoảng giữa 1973 đến ngày 30-4-1975) nên quen biết, và hơn nữa, chơi khá thân với tất cả những anh em này. 

Lâm Chín ngón bị đày ra Côn Đảo khoảng đầu tháng 4-1975, tất nhiên được đưa ngay vào khu C trại 1, nhốt một mình một phòng. 

Thoi gian này tôi mới ở bệnh xá về, ở chung phòng với anh Giáo, chân phải vẫn còn bị liệt nên ngay cả giờ tắm nắng cũng ít đi lại, phải nói thực mới loáng thoáng biết có Lâm, chớ chưa thế gọi là quen Lâm. 

Thì tiếp đó là giải phóng 30-4. 

Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, tôi khi đó đang bị liệt một chân nên được lên chuyển tàu đầu tiên về đất liền. Mãi về sau nghe anh em kể lại số dân chơi trong chuồng cọp khu C bắt Sang lai là tên cầm đầu bọn trật tự phải quỳ gối uống hết một chén nước tiểu trộn phân. Tiếp đó nhiều tù thường phạm bị nhốt trong khu C lợi dụng những ngày đầu giải phóng, công tác canh gác tù nhân còn sơ hở, trốn ra khỏi trại, phá kho tang vật, lấy cấp nhiều món đồ có giá trị trong kho như đồng hồ, nữ trang, tiền mặt... và toàn bộ số này bị xử bắn (nghe đâu ở bài Đầm Trầu). 

Lâm Chín ngón không nằm trong số này, nhưng do án quá nặng (hai án chung thân về tội giết Vũ Định Cường, em Sơn Đảo; và Hoàng Đầu lâu) nên không được tha về hoặc lưu lại Côn Đảo như tất cả các tù thường phạm khác, mà tiếp tục chuyển về trại giam tại đất liền, mãi đến năm 1988 mới được tha về. 

Tha về chưa được bao lâu Lâm Chín ngón đã hỏi thăm, tìm tới thăm tôi, kể cho tôi nghe suốt hơn mười năm qua anh ta đã sống ra sao. 

Nhắc lại thời gian ở chuồng cọp Côn Đảo, Lâm bùi ngùi kể số phận không may của những "dân chơi" cũ. 

Biết tôi quen Đại Cathay hồi ở tù năm 1966 tại khu ED, Chí Hoà; hỏi tuổi, Lâm thua tôi một tuổi nên gọi tôi là anh, xưng em - và kể từ đó, Lâm luôn giới thiệu với mọi người (từ dân chơi đến gia định, người quen) tôi là "anh kết nghĩa" của Lâm. 

Trong câu chuyện kể, tôi nhớ nhất chi tiết Lâm Chín ngón bị đưa vô trại học tập cải tạo ở tận miền Bắc chung với số sĩ quan và cán bộ cao cấp của chế độ cũ. Lần lượt họ được tha về gần hết, rốt lại chỉ còn 13 ông tướng bị nhốt trong trại, đó là 12 người đeo quân hàm tướng thật sự (tướng nguỵ) và ông tướng thứ 13 là tướng cướp - tức Lâm Chín ngón. 

Tôi cũng chỉ biết an ủi Lâm, khuyên anh ta nên cố sống đàng hoàng.